1.2 Chẩn đoán cận lâm sàng - hình ảnh trật khớp cùng đòn. X quang trật khớp cùng đòn: Chụp X-quang khớp vai trước - sau, chụp nghiêng tư thế hình chữ Y hoặc chụp nghiêng tiếp tuyến với khớp cùng đòn 10 - 15° sẽ giúp chẩn đoán xác định và phân loại trật khớp cùng đòn. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT TRẬT KHỚP CÙNG ĐÒN BẰNG NẸP MÓC TẠI BỆNH VIỆN SAIGON-ITO Phan Văn Ngọc, Nguyễn Văn Huệ, TÓM TẮT Nguyễn Thành Chơn, Ñaët vaán ñeà: Traät khôùp cuøng ñoøn thöôøng gaëp trong caùc tai naïn haøng ngaøy nhö: tai naïn Lê Chí Dũng giao thoâng, tai naïn lao ñoäng, chaán thöông th Tải miễn phí bjvsn. Khi bị trật khớp xương cùng đòn, người bệnh sẽ rất đau đớn khi vận động khớp vai và gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt. Vì vậy, cần điều trị trật khớp cùng đòn càng sớm càng tốt theo đúng chỉ định của bác sĩ cho từng tình trạng nặng, nhẹ khác nhau. Tùy vào phân độ tổn thương, bác sĩ sẽ chỉ định phương pháp điều trị trật khớp cùng vai đòn phù hợp nhất cho bệnh nhân. 2 lựa chọn bao gồmTrật khớp độ I, II Chỉ định điều trị nội khoa bảo tồn. Hầu hết các bệnh nhân điều trị bảo tồn thường phải đối diện với một giai đoạn đau nhẹ khớp vai, đau lan hết vai rồi mới đến giai đoạn chức năng vai hồi phục hoàn toàn. Dù vậy, có thể sau đó sẽ có di chứng đầu ngoài xương đòn hơi nhô dưới da, gây mất thẩm mỹ;Trật khớp độ III Chỉ định điều trị nội khoa nếu người bệnh có nhu cầu vận động không cao, điều trị phẫu thuật nếu người bệnh có nhu cầu vận động cao đối tượng là người trẻ tuổi, vận động viên. Phẫu thuật cũng được chỉ định nếu điều trị bảo tồn trật khớp cùng đòn độ III thất bại sau 2 – 3 tháng bệnh nhân vẫn còn đau khớp cùng đòn;Trật khớp độ IV, V, VI Chỉ định điều trị phẫu ngay Trật xương khớp xương đòn độ 2 có phải mổ không? 2. Điều trị bảo tồn trật khớp xương cùng đòn Khi bị trật khớp xương cùng đòn, tùy mức độ di lệch mà người bệnh sẽ được bác sĩ chỉ định phương pháp điều trị bảo tồn tương ứng. Với bệnh nhân bị sai khớp ở mức độ I, II, chỉ bị giãn hoặc đứt dây chằng cùng đòn hoặc dây chằng quạ đòn tương đương bị di lệch 1/2 thân xương đòn thì sẽ được điều trị bảo tồn thành công bằng phương pháp nghỉ ngơi, chườm lạnh và mang áo Desault hỗ trợ trong vòng 2 - 4 suốt thời gian điều trị trật khớp cùng đòn bằng phương pháp bảo tồn, bệnh nhân sẽ phải tái khám, chụp phim kiểm tra tối thiểu 2 lần. Người bệnh cũng được chỉ định tập phục hồi chức năng thụ động và chủ động để có thể khôi phục biên độ vận động, tránh teo cơ, cứng khớp cũng như lấy lại sức mạnh của khớp thuộc vào mức độ tổn thương mà hầu hết người bệnh đều sẽ hồi phục sau 2 - 3 tháng. Thông thường, sau khoảng 2 tuần với trật khớp độ I, 6 tuần với trật khớp độ II và 12 tuần với trật khớp độ III là người bệnh có thể vận động khớp vai tối đa, ấn không đau khớp cùng đòn, có thể quay lại chơi thể thao. Điều trị trật khớp cùng đòn bằng phương pháp bảo tồn 3. Điều trị phẫu thuật trật khớp cùng đòn Đến nay, đã có hơn 60 phương pháp phẫu thuật điều trị tình trạng trật khớp cùng đòn. Nhiều phương pháp ban đầu là nắn trật khớp cùng đòn rồi cố định bằng kim loại. Tuy nhiên, những kỹ thuật này thường tiềm ẩn nguy cơ biến chứng do dụng cụ kim loại gây ra, buộc phải lấy bỏ dụng cụ, khiến kết quả thu được không vậy, gần đây, các phương pháp mổ trật khớp cùng đòn mô mềm đã được áp dụng để tái tạo chức năng của dây chằng cùng đòn hoặc dây chằng quạ đòn bị có nhiều phương pháp phẫu thuật điều trị trật khớp cùng đòn như Phẫu thuật cố định khớp cùng vai đòn Đây là phương pháp cố định khớp cùng đòn bằng cách sử dụng các dụng cụ kết hợp xương như chỉ thép, nẹp móc hay đinh Kirschner. Phương pháp này chỉ được sử dụng cho bệnh nhân trật khớp xương cùng đòn cấp tính không quá 3 tuần.Đặc điểm của việc sử dụng các dụng cụ khác nhau như sauKết hợp xương bằng đinh Kirschner Có nguy cơ xảy ra tình trạng đinh bị di chuyển trong quá trình người bệnh hồi phục vận động và làm việc;Kết hợp xương bằng nẹp móc Đơn giản và dễ thực hiện nhưng có chi phí cao và người bệnh thường bị đau ở vị trí bắt nẹp hoặc mắc hội chứng chạm. Cố định xương đòn vào mỏm quạ Phương pháp này gồm các kỹ thuật sauBắt vít quạ - đòn, vòng chỉ Là phương pháp bắt vít cố định xương đòn với mỏm quạ hoặc buộc cố định vòng chỉ có độ bền cao giữa xương đòn với mỏm quạ thông qua nội soi. Kỹ thuật này có nhược điểm là về sau sẽ cần thực hiện thêm kỹ thuật tháo vít; đồng thời vòng chỉ có thể cắt nền mỏm quạ và xương đòn. Phương pháp này chỉ định cho bệnh nhân bị trật khớp cùng đòn cấp tính;Sửa chữa dây chằng quạ đòn Gồm 2 kỹ thuật sauArthrex Tightrope Có 1 nút hình chữ nhật, 1 nút tròn. Chỉ cứng số 5 giúp cố định khớp cùng đòn bằng cách tái cấu trúc dây chằng quạ đòn được cố định mềm dẻo. Kỹ thuật này áp dụng cho người bệnh trật khớp xương cùng đòn cấp tính;Arthrex Graftrope Là kỹ thuật kết hợp cố định bằng chỉ và phương pháp ghép tự thân, giúp tái tạo dây chằng quạ đòn để cấu trúc này lành lại một cách tự nhiên. Kỹ thuật này được áp dụng cho cả người bệnh trật khớp cùng đòn cấp tính và mãn tính;Tái tạo dây chằng Gồm tái tạo không theo giải phẫu chuyển dây chằng quạ cùng và tái tạo theo giải phẫu gân cơ chày trước đồng loại hoặc gân khoeo tự thân. Phương pháp này có nhiều ưu điểm nhưng đòi hỏi kỹ thuật cao, bác sĩ thực hiện phải có nhiều kinh nghiệm. Kỹ thuật này yêu cầu việc tái tạo phải đạt được cấu trúc giải phẫu của dây chằng quạ đòn, cung cấp khung sườn sinh học cho việc tái phân bố mạch máu, giúp tái tạo dây chằng mới. Phẫu thuật điều trị trật khớp cùng đòn Chăm sóc sau phẫu thuật trật khớp cùng đòn Cho người bệnh sử dụng thuốc kháng sinh, kháng viêm và giảm đau;Chăm sóc vết thương phẫu thuật, cắt chỉ sau 1 - 2 tuần;Bệnh nhân đeo nẹp sau phẫu thuật 4 tuần rồi tập khớp vai và tăng dần biên độ vận động;Người bệnh tập vận động khớp cổ tay và khớp khuỷu tay ngay sau phẫu thuật trong khi vẫn bất động khớp vai để tránh nguy cơ hạn chế vận động khớp về sau;Người bệnh lưu ý không nhấc vật nặng trong vòng 3 tuần sau phẫu thuật;Trong vòng 8 - 12 tuần sau phẫu thuật, bệnh nhân không nên đưa tay lên cao quá đầu vì kỹ thuật cố định khớp cùng đòn yêu cầu ngăn cản xoay xương đòn;Sau mổ 4 - 6 tháng bệnh nhân vận động viên cần tập sức mạnh và tốc độ khớp vai;Nếu cố định bằng nẹp vít thì sau 4 - 6 tháng cần phải tháo để đảm bảo chức năng bình thường của ý phòng ngừa trật khớp cùng đòn trong sinh hoạt hằng ngàyTrang bị đầy đủ đồ bảo hộ lao động, đồ bảo hộ khi chơi thể thao;Tham gia giao thông đúng luật, an toàn, cẩn thận;Tìm hiểu cách sơ cứu tại chỗ trong các trường hợp bị chấn thương;Báo ngay cho bác sĩ chuyên khoa khi gặp các trường hợp khẩn trị trật khớp cùng đòn kịp thời sẽ giảm nguy cơ biến chứng và đảm bảo chất lượng cuộc sống, sinh hoạt của bệnh nhân. Vì vậy, khi có các triệu chứng trật khớp cùng đòn, người bệnh cần đến bệnh viện để thăm khám ngay và tuân thủ đúng theo chỉ định điều trị của bác sĩ. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Giải phẫu và dấu hiệu trật khớp cùng đòn Dấu hiệu chấn thương vai sau va chạm Trật khớp cùng đòn Chẩn đoán và các mức độ tổn thương Trật khớp cùng đòn chiếm khoảng 9 - 10% các chấn thương ở vùng vai. Nắm được giải phẫu khớp cùng đòn và triệu chứng trật khớp cùng đòn sẽ giúp bệnh nhân phát hiện bệnh sớm và có phương án điều trị phù hợp. Khớp cùng đòn là gì? Khớp cùng đòn còn được gọi là khớp cùng vai đòn, tiếng Anh là acromioclavicular joint là một khớp động nằm giữa đầu ngoài xương đòn và mặt trong mỏm cùng vai, sụn sợi bao bọc bên ngoài diện khớp. Khớp cùng đòn có bao khớp rất mỏng, tuy nhiên, khớp này lại được giữ vững nhờ cấu trúc 3 hệ thống phức hợp dây chằng gồm dây chằng thang, dây chằng nón và dây chằng cùng đòn. Bên cạnh đó, các sợi của cơ delta và cơ thang đan xen với phần trên dây chằng cùng đòn cũng góp phần làm tăng độ vững của khớp này. Đặc điểm giải phẫu khớp cùng đòn Khớp cùng đòn và các cấu trúc liên quan xung quanh gồmCác cấu trúc giữ vững tĩnh khớp cùng vai đònGồm có dây chằng cùng đòn trên, dưới, trước, sau và dây chằng quạ đòn bó nón và thang. Cụ thểDây chằng cùng đòn và bao khớp Là các cấu trúc có vai trò giữ vững khớp cùng đòn trên mặt phẳng ngang. Bó trên và sau đóng vai trò chủ yếu cho sự vững chắc của khớp. Cụ thể, bó trên góp tới 56%, bó sau góp tới 25% cho độ vững phía sau của khớp cùng đòn. Sự mất vững trước sau của khớp có thể gây ra tình trạng va chạm giữa xương đòn và gai vai phía sau;Dây chằng quạ đòn Gồm bó nón ở trong và bó thang ở ngoài. Bó thang xuất phát từ vị trí cách giữa đỉnh mỏm quạ khoảng 2cm, bám vào mặt dưới xương đòn. Bó nón xuất phát vị trí bờ sau trong của mỏm quạ, bám vào củ nón xương đòn. Dây chằng quạ đòn có chức năng giữ vững phần trên - dưới của khớp cùng vai đòn, ngăn cản phức hợp vai - cánh tay di chuyển xuống dưới hoặc xương đòn di chuyển lên trên. Bó nón đảm bảo 60% độ vững của khớp. Dây chằng quạ đòn cũng có chức năng giữ vững trước - cấu trúc giữ vững động khớp cùng vai đònCơ thang và cơ Delta bám ở 1/3 mặt ngoài, trước, sau của xương đòn và bờ trước ngoài mỏm cùng vai. Các cơ này có hướng tác dụng lực ngược nhau, kết hợp với các dây chằng quạ đòn và cùng đòn đảm nhiệm chức năng củng cố thêm độ vững chắc cho khớp cùng vai đòn. Trong mọi phẫu thuật tái tạo khớp cùng đòn, bác sĩ đều cần phải lưu ý tới vai trò của các cơ này. Bên cạnh đó, trong xử lý vấn đề trật khớp cùng đòn, việc sửa chữa lớp cơ cân mạc thang - delta cũng đóng vai trò rất quan ngay Trật xương khớp xương đòn độ 2 có phải mổ không? 2. Trật khớp cùng đòn là gì? Trật khớp cùng đòn trật khớp cùng đòn vai là một chấn thương vai khá phổ biến do chấn thương khi chơi thể thao hoặc do nạn nhân bị ngã đập vai xuống nền cứng với tư thế cánh tay áp sát thân mình. Tình trạng này chủ yếu gặp ở các vận động viên đua xe đạp, đá bóng, trượt tuyết,...Trật khớp cùng đòn xảy ra khi có một lực tác động vào phía ngoài xương đòn, khiến khớp cùng đòn bị trật với mức độ nhẹ, trung bình hoặc nặng. Cơ chế chấn thương có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp. Cụ thểTrực tiếp Chấn thương xảy ra khi nạn nhân bị ngã đập vai xuống nền cứng trong tư thế khớp vai khép lại, khiến mỏm cùng vai bị đẩy vào trong và xuống dưới;Gián tiếp Nạn nhân ngã chống tay xuống nền, khiến lực tác động chạy dọc theo trục xương cánh tay đi đến khớp cùng trật khớp ở mức độ nhẹ hoặc trung bình, các dây chằng ở khớp cùng đòn sẽ căng giãn hoặc bị đứt một phần. Nếu bị trật khớp ở mức độ nặng, các dây chằng néo giữ xương đòn xuống dưới thường bị đứt. Khi đó, đầu ngoài xương đòn sẽ bị bật lên, dễ dàng quan sát thấy lớp da phía ngoài xương bị nhô lên. Trật khớp cùng đòn xảy ra khi có một lực tác động vào phía ngoài xương đòn 3. Triệu chứng trật khớp cùng đòn Những dấu hiệu nhận biết trật khớp cùng đòn gồmSau chấn thương, bệnh nhân bị đau, sưng, bầm tím ở vai chấn thương;Trường hợp trật khớp nhẹ và vừa độ I - III, người bệnh có triệu chứng đau âm ỉ tại vị trí khớp cùng vai đòn, cơn đau tăng lên nếu bệnh nhân bắt chéo tay hoặc nâng vật nặng;Trường hợp bị trật khớp nặng độ IV - VI, hệ thống dây chằng giữ ở đầu ngoài xương đòn và bao khớp cùng đòn bị đứt hoàn toàn thì sẽ thấy đầu ngoài xương đòn nhô lên dưới da, vai của bên trật bị biến dạng so với bên đối diện. Người bệnh bị đau, không thể đưa tay lên quá đầu hoặc không thể nằm nghiêng về phía vai bị tổn thương. Bệnh nhân còn có dấu hiệu phím đàn ấn tay vào thì xương đòn sẽ về vị trí ban đầu nhưng khi thả tay thì đầu ngoài xương đòn lại nhô lên.Khi có bất kỳ dấu hiệu nào nêu trên, những người xung quanh nên kịp thời đưa bệnh nhân đi thăm khám để được chẩn đoán chính xác bệnh lý trật khớp cùng đòn. Từ đó, bác sĩ sẽ có phương án điều trị kịp thời, dứt điểm, tránh gây ảnh hưởng tới sinh hoạt hằng ngày của người bệnh. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Các phương pháp điều trị trật khớp cùng đòn Dấu hiệu chấn thương vai sau va chạm Trật khớp cùng đòn Chẩn đoán và các mức độ tổn thương I. Trật khớp cùng đòn– Trật khớp cùng-đòn acromioclavicular joint dislocation là một chấn thương vai thường gặp, do chấn thương thể thao hoặc do ngã đập vai xuống nền cứng. – Thường gặp trong các vận động viên xe đạp, trượt tuyết hoặc đá bóng. – Những thương tổn này được xếp loại cứ trên mức độ thương tổn của các dây chằng cùng-đòn và dây chằng quạ-đòn.* Giải phẫu – Dây chằng cùng đòn và bao khớp các cấu trúc này chủ yếu giữ vững khớp cùng đòn trên mặt phẳng ngang. Klimkiewicz 1999 khi thực nghiệm trên xác chứng tỏ rằng bó trên và sau đóng vai trò chủ yếu, bó trên góp phần 56%, bó sau góp phần 25% cho sự vững phía sau. Sự mất vững trước sau có thể gây ra sự va chạm giữa xương đòn và gai vai phía sau. – Dây chằng quạ đòn dây chằng quạ đòn gồm 2 bó nón ở trong và thang ở ngoài. Dây chằng quạ đòn đóng vai trò chủ yếu trong việc giữ vững trên dưới của khớp cùng đòn, ngăn sự di chuyển xuống dưới của phức hợp vai cánh tay hoặc di chuyển lên trên của xương đòn. Bó nón cung cấp 60% cho sự vững này. Dây chằng quạ đòn cũng đóng vai trò giữ vững trước sau. – Các yếu tố giữ vững động khớp cùng đòn cơ thang và cơ Delta bám ở 1/3 ngoài, mặt trước, mặt sau của xương đòn và bờ trước ngoài mỏm cùng vai. Hai cơ này có hướng tác dụng lực ngược nhau, cùng với các dây chằng cùng đòn và quạ đòn giúp củng cố thêm độ vững chắc cho khớp cùng đòn. Vai trò của các cơ này trong sự vững khớp cùng đòn cần phải được lưu ý trong bất cứ phẫu thuật tái tạo khớp cùng đòn nào. Việc sửa chữa lại lớp cơ cân mạc thang-delta cũng khá quan trọng trong khi xử lí vấn đề trật khớp cùng đòn. là Website học tập về chuyên ngành Chẩn Đoán Hình Ảnh NỘI DUNG WEB » 422 Bài giảng chẩn đoán hình ảnh » X-quang / Siêu âm / CT Scan / MRI » Hình ảnh case lâm sàng ĐỐI TƯỢNG » Kỹ thuật viên CĐHA » Sinh viên Y đa khoa » Bác sĩ khối lâm sàng » Bác sĩ chuyên khoa CĐHA Nội dung Bài giảng & Case lâm sàng thường xuyên được cập nhật ! Đăng nhập Tài khoản để xem Nội dung Bài giảng & Case lâm sàng !!! Tài liệu tham khảo* Shoulder and Humerus Injuries – Robert * MR Imaging Appearances of Acromioclavicular Joint Dislocation – Faisal Alyas, FRCR, Mark Curtis, FRCOrth, Cathy Speed, FRCP, PhD * Imaging of the Acromioclavicular Joint Anatomy, Function, Pathologic Features, and Treatment – Dyan V. Flores * Acromioclavicular Joint Injuries Pictorial Review – E. Rossetto * The Rockwood System of Acromioclavicular Joint Injuries and Novel Imaging Techniques to Improve Accuracy of Injury Classification – H. Thalagala, J. Hocking, A. Coulthard; QLD/AU * A Novel Radiographic Index for the Diagnosis of Posterior Acromioclavicular Joint Dislocations – Alex Vaisman, Ignacio Eduardo Villalón Montenegro, María Jesús Tuca De Diego and Juanjose Valderrama Ronco * Acromioclavicular joint injuries Imaging and management – Sravanthi Mantripragada * Radiographic evaluation of the acromioclavicular and sternoclavicular joints – Lauren A. Ernberg, MD, Hollis G. Potter, MD * Sternoclavicular Joint Dislocation – Mike Cadogan * Posterior dislocation of the sternoclavicular joint – Leila Khorashadi, MD * Don’t Forget the Physeal Injury Developmental anatomy of the physes and pictorial review of injury patterns in the shoulder girdle of the immature skeleton – I. Anwar, D. Amiras, M. Khanna, M. A. E. Walker; London/UK * Clavicle Fracture – Rajesh Nanda and Amar Rangan * Pediatric Clavicle Fractures and Congenital Pseudarthrosis Unraveled – Lisa van der Water 1. ĐẠI CƯƠNG Trật khớp là sự di lệch hoàn toàn hay không hoàn toàn các mặt khớp với nhau. Nguyên nhân thường gặp là chấn thương do một tác nhân tác động gián tiếp trên khớp hoặc do động tác sai tư thế của khớp. Trật khớp cũng có thể do bệnh lý nhưng rất ít gặp, vì vậy khi nói đến trật khớp thì đó là trật khớp chấn thương. Trật khớp gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng nhiều nhất ở tuổi trẻ. Tổn thương cơ bản của trật khớp là đứt, rách các dây chằng và bao khớp. Chẩn đoán trật khớp không khó, điều trị sớm thường dễ thành công và dự hậu tốt, điều trị muộn thì rất khó khăn và cơ năng thường kém. Ở nước ta còn gặp nhiều trật khớp cũ do còn nhiều cách chẩn đoán và điều trị sai lầm trong nhân dân bó thuốc và bất động không đúng cách, khớp chưa được nắn hoặc bị trật lại mà không biết. 2. TỔN THƯƠNG GIẢI PHẪU CỦA TRẬT KHỚP Một đơn vị khớp gồm có 5 thành phần – Mặt sụn khớp với lớp xương dưới sụn và bao hoạt dịch – Bao khớp và dây chằng. – Cơ, gân quanh khớp. – Thần kinh vận động và cảm giác cho khớp. – Mạch máu nuôi dưỡng các thành phần trên. Khi khớp bị trật, các thành phần trên sẽ bị tổn thương bao khớp rách; dây chằng đứt; mạch máu đứt gây nên tụ máu trong khớp; thần kinh bị tổn thương gây đau, cơ gân thường không đứt và chính nó gây nên các triệu chứng biến dạng và dấu lò xo. Mặt sụn khớp nếu được nắn lại sớm thường không bị tổn thương, nếu để trật lâu ngày có thể gây nên hư sụn và gây ra hư khớp về sau. Một số trường hợp trật khớp háng còn gây nên biến chứng hoại tử chỏm xương đùi vì thiếu máu nuôi dưỡng. 3. PHÂN LOẠI TRẬT KHỚP Người ta phân loại trật khớp theo 5 phương diện sau đây Theo thời gian Có 3 loại – Trật khớp cấp cứu bệnh nhân đến khám trước 48 giờ sau khi bị tai nạn. – Trật khớp đến sớm bệnh nhân đến khám trước 3 tuần sau khi bị tai nạn. – Trật khớp đến muộn còn gọi là trật khớp cũ các trường hợp bệnh nhân đến khám sau 3 tuần. Cách phân loại này cho chúng ta khái niệm sẽ nắn khó hay dễ. Trật khớp đến muộn bao khớp rách có thể đã liền sẹo và ổ khớp bị lấp đầy bởi mô xơ, hơn thế nữa các cơ bị co rút sẽ làm cho việc nắn kín khó khăn. Mốc trật khớp cũ là 3 tuần là thời gian lành bao khớp. Tuy nhiên không phải đúng chính xác là 3 tuần mà thời gian này có thể ± vài ngày. Có những trật khớp sớm hơn 3 tuần nhưng khó nắn và có những trật khớp sau 3 tuần vẫn có thể nắn lại được dễ dàng. Theo giải phẫu và X quang Có 3 loại – Trật khớp hoàn toàn Các mặt khớp không còn nhìn nhau, di lệch nhiều. – Bán trật Các mặt khớp di lệch không hoàn toàn. – Gãy trật Trật khớp kèm thêm gãy xương tại ổ trật khớp. Dựa vào phim X-quang để phân loại về giải phẫu. Cách phân loại này cho biết mức độ phức tạp và khả năng nắn chỉnh trật khớp. Loại bán trật, các mặt khớp không trật hoàn toàn, chỉ bị cấp kênh, phải tìm nguyên nhân gây nên cấp kênh, hai mặt khớp bị cấp kênh sẽ làm cho sự vận động của khớp không được hoàn hảo, đôi khi gây ra hư khớp. Loại gãy trật là loại gãy phức tạp vì có thêm gãy xương trong ổ trật khớp có thể làm ổ khớp mất vững, dễ trật lại sau nắn hoặc không nắn chỉnh bảo tồn được mà đòi hỏi phải phẫu thuật. Theo mức độ tái phát Có 3 loại – Trật khớp lần đầu. – Trật khớp tái diễn Khi khớp ấy bị trật từ lần thứ hai trở lên sau một thời gian lành. Thường gặp ở trật khớp vai. – Trật khớp thường trực Khớp thường xuyên bị trật sau một động tác. Thường gặp trong trật xương bánh chè do đứt dây chằng cánh trong. Xương bánh chè trật ra ngoài khi bệnh nhân gập gối và trở về vị trí cũ khi bệnh nhân duỗi gối. Trật khớp tái diễn và trật khớp thường trực chỉ xảy ra ở một ít các khớp do đặc điếm về giải phẫu, việc điều trị thường là phẫu thuật để chỉnh sửa hoặc phục hồi các thương tổn giải phẫu đó. Theo thể lâm sàng Có 4 loại – Trật khớp kín. – Trật khớp hở trật khớp có vết thương thông vào ổ khớp. Có 2 tổn thương chính là trật khớp và vết thương khớp. – Trật khớp kèm biến chứng thần kinh, mạch máu. Ngoài trật khớp còn có tổn thương khác là mạch máu hoặc/và thần kinh cần phải được xử lý tốt. – Trật khớp khoá trật khớp kẹt do có mảnh xương nhỏ bị vỡ và kẹt vào giữa 2 mặt khớp, gây nên sự nắn khớp khó khăn. Thường gặp trong trật khớp khuỷu có kèm gãy mỏm trên ròng rọc mỏm trên lồi cầu trong. Theo vị trí trật của chỏm hoặc hỏm khớp Đây là cách để chúng ta gọi tên một trật khớp, là hình dáng bên ngoài các cách phân loại trên thể hiện nội dung bên trong. Dựa vào vị trí của chỏm hoặc hỏm khớp đầu xa có các loại trật ra trước, ra sau, vào trong, ra ngoài, lên trên, xuống dưới. Riêng khớp háng có kiểu trật trung tâm. Khi gặp một trật khớp, ngoài hình thức là vị trí trật, chúng ta phải xác định nội dung nó thuộc loại nào theo cả 4 cách phân chia trên. Trong chẩn đoán nếu chỉ ghi là trật khép thì có nghĩa là nó thuộc loại trật khép kín, lần đầu, trật hoàn toàn và đến sớm hoặc cấp cứu. 4. CHẨN ĐOÁN TRẬT KHỚP Để chẩn đoán trật khớp, chúng ta dựa vào Bệnh sử – Hỏi kỹ cơ chế chấn thương, thông thường là chấn thương gián tiếp. Lực tác động kiểu đòn bẫy. – Tuổi người bệnh thường gặp ở người trẻ. Ở người già cùng một cơ chế chấn thương thì gặp nhiều gãy xương hơn vì xương bị mất chất vôi nên dễ gãy. Triệu chứng lâm sàng Ngoài các triệu chứng như sưng, đau, mất cơ năng, là những triệu chứng không đặc hiệu cần tìm 3 nhóm triệu chứng đặc hiệu của trật khớp gồm có – Biến dạng Mỗi kiểu trật có biến dạng đặc hiệu của nó, gọi là biến dạng điển hình vì chỉ cần thấy biến dạng có thể chẩn đoán được có trật khớp. Trong gãy xương biến dạng có thể thay đổi theo tư thế của chi, còn trong trật khớp biến dạng không thay đổi nếu khớp chưa được nắn. – Dấu ổ khớp rỗng Hay là ổ khớp không có chỏm. Khi khám cần so sánh với bên lành để xác định. – Dấu lò xo Làm động tác thụ động ngược chiều với biến dạng, khi buông tay ra chi trật khớp sẽ bật trở lại tư thế biến dạng. Dấu hiệu biến dạng và lò xo có thể bị mất nếu kèm theo gãy xương gãy trật hoặc gãy xương đi kèm. Dấu hiệu ổ khớp rỗng chỉ gặp trong trật khớp hoàn toàn. Đây là dấu hiệu rất tin cậy, tuy nhiên những trường hợp đến muộn do chi sưng nề nhiều nên việc tìm triệu chứng này đôi khi rất khó khăn. – X-quang Phải chụp đủ cả 2 bình diện Mặt và Bên. Phim X-quang xác định trật khớp kiểu gì và có kèm gãy xương không gãy trật hoặc kèm thêm gãy xương nơi khác 5. NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ TRẬT KHỚP Nguyên tắc chung là NẮN – BẤT ĐỘNG – TẬP VẬN ĐỘNG Tuy nhiên cần chú ý các vấn đề sau đây – Phải khám toàn diện bệnh nhân để phát hiện những tổn thương khác nặng hơn có thể đi kèm cần điều trị trước. – Phải xác định loại trật khớp trước khi điều trị, nhất là trật khớp kèm biến chứng thần kinh. – Phải có đủ phim X-quang trước khi nắn khớp. Ngoài việc xác định trật khớp, phim X- quang còn cho biết kiểu trật khớp, các tổn thương xương phối hợp và để theo dõi điều trị. – Khớp bị trật cần được nắn lại càng sớm càng tốt. Nắn sớm thường dễ nắn, dễ phục hồi, ít biến chứng. – Khi nắn khớp không được gây đau. Phải gây tê ổ khớp, tê vùng hoặc gây mê. – Thời gian bất động khớp sau nắn dựa vào 2 yếu tố + Thời gian lành bao khớp, xương gãy. + Sự phục hồi chức năng của khớp. Thời gian bất động thay đổi tùy mỗi khớp và loại trật khớp. Trong trật khớp đơn thuần, nếu khớp không dễ dàng bị trật lại sau khi nắn thì việc bất động lâu dài sẽ không cần thiết không bất động lâu chờ cho bao khớp lành hẳn mà chỉ bất động tương đối và cho bệnh nhân tập vận động sớm. – Trong trật khớp cũ có 2 vấn đề cần chú ý + Bao khớp, gân cơ bị co rút. + Ổ khớp bị lấp đầy bởi mô xơ. Cho nên việc nắn bảo tồn thường không đạt kết quả. Phải mổ để đặt lại hoặc tạo hình khớp. Khi can thiệp phẫu thuật vào ổ khớp sẽ có một số bất lợi như + Làm tổn thương thêm bao khớp và dây chằng. + Gây dính khớp. + Phải bất động lâu dễ bị cứng khớp. + Có thể bị nhiễm trùng vả viêm khớp. Vì vậy chỉ định phải cân nhắc, nếu sau mổ kết quả tốt hơn thì mới nên thực hiện. 6. CÁC TRẬT KHỚP THƯỜNG GẶP Chi trên – Khớp vai Thường gặp nhất ở chi trên, tổn thương cơ bản là rách, dãn bao khớp, các dây chằng bao khớp, sụn viền. Biến chứng hay gặp đi kèm liệt thần kinh mủ và thần kinh cơ bì liệt cơ delta, cơ nhị đầu, cánh tay trước. Trật khớp tái diễn có thể gặp muộn về sau. – Khớp cùng – đòn có thể nhầm với gãy đầu ngoài xương đòn. Tổn thương cơ bản là đứt dây chằng cùng đòn và quạ đòn gây nên triệu chứng “phím đàn dương cầm’’. Điều trị phải phục hồi các dây chằng này. – Khớp khuỷu Gặp nhiều sau trật khớp vai. Là loại khớp ròng rọc, thường gặp trật ra sau. Khớp được giữ vững sau nắn nếu để gập, để duỗi dễ bị trật lại vì vậy gặp khá nhiều trật khớp cũ do bó thuốc và bất động ở tư thế duỗi. Trật khớp khóa là đặc điểm của trật khớp này do gãy mỏm trên ròng rọc kèm theo có thể kẹt vào khe khớp gây khó nắn. – Khớp quay – trụ trên trật khớp đơn thuần hiếm gặp, thể hiện lâm sàng qua trật khớp cánh tay-quay và thường gặp trong gãy trật Monteggia. Tổn thương cơ bản là đứt dây chằng vòng và rách màng liên cốt. Do đi kèm với gãy xương trụ nên cần chú ý điều trị tốt gãy xương. Đa số phải mổ kết hợp xương trụ, đôi khi phải tái tạo dây chằng vòng. – Khớp quay – trụ dưới tổn thương cơ bản là đứt dây chằng tam giác, có thể gặp trật đơn thuần có dấu phím đàn dương cầm hoặc kèm theo gãy đầu dưới xương quay nhất là gãy trật Galéazzi. – Khớp cổ tay, trật xương bán nguyệt tổn thương là các dây chằng quanh xương bán nguyệt gọi là trật quanh xương bán nguyệt – Khớp thang – bàn khớp hình yên ngựa. Trật khớp này làm hạn chế động tác dạng ngón cái. Thường gặp trong gãy trật Bennett. – Khớp bàn – ngón Có biến dạng hình chữ chi Z. Khớp bàn ngón I có 2 xương vừng, nắn không đúng kỹ thuật làm 2 xương này lọt vào khe khớp thì không thể nắn được nữa mà phải mổ để gỡ kẹt. Khớp bàn ngón II nếu trật chỏm xương bàn có thể bị kẹt bởi dây chằng ngang, tấm sụn lòng, gân gập, gân cơ giun, làm cho không thể nắn bảo tồn được mà phải mổ. Chi dưới – Khớp háng là khớp lớn nhất cơ thể, có hỏm khớp sâu nên nếu bị trật thường do lực chấn thương mạnh kiểu đòn bẩy. Đa số trật ra sau 80%, có thể kèm vỡ bờ sau ổ cối. Trật đơn thuần rất dễ chẩn đoán bằng lâm sàng. Nắn khớp cần vô cảm bằng gây mê. – Khớp gối ít gặp, lực chấn thương thường làm gãy lồi cầu và mâm chày. Loại trật khớp này cần được chú ý đến động mạch khoeo. – Xương bánh chè trật khớp do đứt các dây chằng cánh, vì vậy có loại trật thường trực. – Khớp cổ chân thường gặp trong gãy hai mắt cá. Cần chú ý gọng chày mác. – Các khớp ở bàn chân thường gặp gãy trật như gãy trật khớp Lisfranc, gãy trật các xương bàn chân. Xem thêm chi tiết trong các chương chấn thương mỗi vùng tương ứng TÀI LIỆU THAM KHẢO BÙI VĂN ĐỨC – Trật khớp. Bài giảng Bệnh học ngoại khoa. Tập V. Trường Đại học Y Dược trang 345-365. 1989. DUPUIS LECLAIRE – Pathologie médicale de l’appareil locomoteur. Chapitre 22. Edisen Maloine p 477. 1986. LEVON DOURSOUNIAN – Luxation de l’épaule. IMPACT Internat Avril-l988 p53- 66. – Kỹ thuật điều trị gãy xương bản dịch của Nguyễn Quang Long tập 2. Trang 51-84 và 162-183. NXB Y Học 1980. – Luxation de l’épaule. Manuel de traumatologie. Masson et Cie Paris p 95-102. 1970 CHARLES A. ROCKWOOD. JR. – Subluxation and dislocation about the shoulder. Rockwood and Green’s fractures in Adults. p 722- 805. 1984.

bài giảng trật khớp cùng đòn