Bạn nghĩ sự khác biệt lớn nhất giữa người giàu và người nghèo là gì?Bí mật đằng sau sự giàu có của các tỷ phú phải chăng là sự thông minh của họ? Sách nói | BÍ MẬT TƯ DUY TRIỆU PHÚ | Phần 2 / 11Phần 1: Kế hoạch tài chính trong tâm thức bạnKế hoạch Tài chính trong tâm thức bạn là gì và kế hoạch đó Truyện Đời Thực Hấp Dẫn - Góc Khuất Bí Mật (Full) - Diễn Đọc MC Tâm An - Nghe Truyện Đêm:- Tâm An xin kính chào quý khán thính giả đã đến với kênh nghe Tài liệu "Bí mật đời tư vấn đề lí luận và thực tiễn" có mã là 262000, file định dạng zip, có 17 trang, dung lượng file 24 kb. Tài liệu thuộc chuyên mục: Luận văn đồ án > Kinh tế > Thuế. Tài liệu thuộc loại Đồng. Nội dung Bí mật đời tư vấn đề lí luận và thực tiễn Điều 34 Bộ Luật Dân Sự 1995 chỉ ghi nhận ngắn gọn: “1- Quyền đối với bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. 2- Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý hoặc thân nhân của kim tỨ ĐỒ thu nhẬp - bÍ mẬt quyẾt ĐỊnh gi.À.u ngh.È.o October 18, 2022 Kỹ năng sống, KIM TỨ ĐỒ THU NHẬP - BÍ MẬT QUYẾT ĐỊNH GI.À.U NGH.È.O Kim tứ đồ – một định nghĩa được đưa ra bởi bậc thầy tài chính Robert Kiyosaki trong 8HJRB. Bí mật đời tư là gì? Căn cứ pháp lý Bộ luật dân sự 2005 Bí mật đời tư là những thông tin, tư liệu sự kiện, hoàn cảnh về đời tư của cá nhân mà người khác không được loan truyền nếu không được người đó đồng ý hoặc pháp luật cho phép. Bí mật đời tư của cá nhân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Quyền đối với bí mật đời tư gồm cả quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở và quyền tự do thư tín của công dân. Do đó, không ai được khám xét chỗ ở, bóc, mở, kiểm soát thư, điện tín, điện thoại, bưu kiện của người khác nếu mình không phải là người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Người bị vi phạm bí mật đời tư có quyền yêu cầu người vi phạm phải a. Chấm dứt hành vi vi phạm. b. Xin lỗi, cải chính công khai. c. Bồi thường thiệt hại. Trường hợp hành vi vi phạm cấu thành tội phạm thì người vi phạm bị xét xử về tội xâm phạm chỗ ở của công dân,tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện báo của người khác. HNMO - Tiếp tục chương trình kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XV, sáng 10-6, các đại biểu Quốc hội Đoàn thành phố Hà Nội thảo luận ở tổ về các dự án Luật Căn cước công dân sửa đổi, Luật Viễn thông sửa đổi. Trong đó, các đại biểu nhấn mạnh việc cần thiết quản lý, sử dụng thông tin để bảo vệ quyền công dân, bí mật đời tư của công dân khi sửa đổi Luật Căn cước công dân. Các đại biểu Quốc hội Đoàn thành phố Hà Nội thảo luận ở tổ sáng 10-6. Tạo bước đột phá về chuyển đổi Các đại biểu cơ bản đồng ý với Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Quốc phòng và An ninh về sự cần thiết ban hành Luật Căn cước nhằm thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng Chính phủ điện tử, tạo cơ sở pháp lý triển khai thực hiện, tạo bước đột phá về chuyển đổi số trên tất cả các lĩnh vực,,, Đại biểu Nguyễn Tuấn Thịnh Đoàn Hà Nội thảo luận tại tổ sáng 10-6. Tuy nhiên, các đại biểu cũng cho rằng để việc xây dựng, ban hành Luật Căn cước được chặt chẽ, phát huy hiệu quả, phù hợp với thực tiễn, đề nghị Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật số đồng bộ, sớm hoàn thiện ứng dụng tài khoản định danh điện tử, kết nối, chia sẻ thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, phát huy tối đa hiệu quả của Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước. Đại biểu Lê Nhật Thành Đoàn Hà Nội thảo luận tại tổ sáng 10-6. Theo Trung tướng Nguyễn Hải Trung, Giám đốc Công an thành phố Hà Nội, các nội dung trong dự án Luật Căn cước công dân sửa đổi góp phần quan trọng vào “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” của Chính phủ. Để thực hiện thành công Chương trình này, việc xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước có ý nghĩa rất quan trọng, cùng với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Về giấy chứng nhận căn cước và quản lý người gốc Việt Nam Điều 7, đại biểu nhất trí việc bổ sung đối tượng áp dụng là người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch. Dẫn chứng thực tế nhiều người dân vùng đồng bào Khmer Nam Bộ sinh sống tại đây lâu nhưng chưa có giấy tờ hợp lệ, việc cấp giấy chứng nhận căn cước cho người gốc Việt Nam sẽ mở ra hướng giải quyết đối với một bộ phận người gốc Việt Nam có nguyện vọng cần có một loại giấy tờ tùy thân, giúp họ ổn định cuộc sống, có việc làm, con em được đến trường, bảo đảm quyền lợi trong giao dịch dân sự, phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước, đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhà nước. Trung tướng Nguyễn Hải Trung, Giám đốc Công an thành phố Hà Nội Đoàn Hà Nội thảo luận tại tổ. Về người được cấp thẻ căn cước Điều 20, đại biểu Nguyễn Hải Trung đồng ý với phương án cấp thẻ căn cước cho người dưới 14 tuổi nhằm tạo thuận lợi trong việc khám, chữa bệnh, sử dụng phương tiện công cộng, đi học, thay vì phải dùng giấy khai sinh bản giấy nhiều bất tiện, không có đủ thông tin sinh trắc. Trao đổi thêm thông tin về việc tích hợp các cơ sở dữ liệu chuyên ngành gắn với căn cước công dân, đại biểu nhấn mạnh dự thảo Luật không chỉ phục vụ hoạt động của ngành Công an, mà còn nhiều ngành khác. Chú trọng bảo vệ thông tin cá nhân Đại biểu Nguyễn Thị Lan cho biết, hiện nay, chúng ta đang triển khai Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 theo Quyết định số 06/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Vì thế, việc ban hành dự án Luật này giúp người dân giảm thiểu giấy tờ, thủ tục hành chính khi giải quyết trên môi trường mạng, tăng cường công khai, minh bạch. Đại biểu Nguyễn Thị Lan Đoàn Hà Nội thảo luận tại tổ sáng 10-6. Về thông tin của công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư Điều 10, đại biểu cho rằng, việc mở rộng, bổ sung thông tin lưu trữ là cần thiết, đồng thời việc tăng cường chia sẻ, kết nối giữa các cơ sở dữ liệu sẽ phát huy tối đa hiệu quả sử dụng dữ liệu, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và tiệm cận với xu thế chung của thế giới. Tuy nhiên, đại biểu cũng đề nghị nghiên cứu kỹ từng loại thông tin quy định tại các điều này để bảo đảm hiệu quả, có tính khả thi. Về tích hợp thông tin vào thẻ căn cước Điều 23, đại biểu nhất trí việc tích hợp một số thông tin về công dân vào thẻ căn cước nhằm góp phần giảm giấy tờ cho công dân, tạo thuận lợi cho cơ quan, tổ chức và công dân trong các giao dịch hành chính, dân sự, đi lại, cải cách thủ tục hành chính. Tuy nhiên, việc tích hợp thông tin phải đi đôi với việc bảo đảm hạ tầng kỹ thuật và quản lý, sử dụng thông tin để bảo vệ quyền công dân, bí mật đời tư của công dân. Cơ bản nhất trí với các nội dung dự thảo Luật, Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm kiến nghị cơ quan soạn thảo bổ sung mục “tên thường dùng” trong thông tin của công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư Điều 10. Đại biểu dẫn chứng trường hợp của cá nhân đại biểu, có tên khai sinh là Đặng Minh Châu nhưng tên thường dùng là Thích Bảo Nghiêm. Đại biểu cũng nhất trí cao với mục “Nhóm máu” trong Điều 10, bởi khi người dân đi cấp cứu, khám, chữa bệnh thì thông tin này rất cần và không phải xét nghiệm lại. Đại biểu Nguyễn Anh Trí Đoàn Hà Nội thảo luận tại tổ sáng, 10-6. Liên quan đến thông tin của công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư Điều 10, đại biểu Nguyễn Anh Trí góp ý vào việc ghi “Quê quán”. Đại biểu dẫn chứng việc bản thân sinh sống và làm việc hơn 50 năm tại Hà Nội, nhưng mỗi khi cần phải xác minh thủ tục giấy tờ, phải về Quảng Bình. “Bản thân tôi, có thể xác minh được vì còn nhiều người ở địa phương biết. Nhưng các con, cháu tôi sau này mà về Quảng Bình để xác minh lý lịch thì sẽ không ai biết vì chúng không sinh ra và lớn lên ở đó. Vì thế, cơ quan soạn thảo cần tính đến phương án này để giảm phiền hà về thủ tục cho công dân”, đại biểu kiến nghị. Luật Hòa Bình có bài viết chia sẻ về "Quyền bí mật đời tư, bảo vệ quyền bí mật đời tư" . Rất mong được sự góp ý. Xin cảm ơn. - “bí mật đời tư” là một cụm từ Hán - Việt, có nguồn gốc từ chữ Hán và được Việt hóa. Do đó, có thể hiểu “bí mật” là những chuyện kín đáo, chuyện muốn che giấu, không muốn ai biết. “Tư” ở đây có nghĩa là riêng, việc riêng, của riêng. Như vậy, “bí mật đời tư” là chuyện thầm kín của một cá nhân nào đó. Điều 34 Bộ Luật Dân Sự BLDS 1995 chỉ ghi nhận ngắn gọn 1. Quyền đối với bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. 2. Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý hoặc thân nhân của người đó đồng ý, nếu người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải được thực hiện theo quy định của pháp luật. 3. Không ai được tự tiện bóc mở, thu giữ, tiêu huỷ thư tín, điện tín, nghe trộm điện thoại hoặc có hành vi khác nhằm ngăn chặn, cản trở đường liên lạc của người khác. Chỉ trong những trường hợp được pháp luật quy định và phải có lệnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được tiến hành việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân. Như vậy, theo Điều luật này, “bí mật đời tư” được giới hạn trong phạm vi “thư tín, điện tín, điện thoại”, “đường liên lạc”. Điều 38 BLDS 2005 quy định quyền bí mật đời tư trong phạm vi rộng hơn, tức bổ sung thêm “các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân”, còn nội dung khác vẫn giữ nguyên theo tinh thần BLDS 1995. Theo quan điểm của một số người làm công tác pháp luật, bí mật đời tư có thể được hiểu là những gì gắn với nhân thân con người, là quyền cơ bản. Đó có thể là những thông tin về hình ảnh, cuộc sống gia đình, tên gọi, con cái, các mối quan hệ... gắn liền với một cá nhân mà người này không muốn cho người khác biết. Những bí mật đời tư này chỉ có bản thân người đó biết hoặc những người thân thích, người có mối liên hệ với người đó biết và họ chưa từng công bố ra ngoài cho bất kỳ ai. “Bí mật đời tư” có thể hiểu là “chuyện trong nhà” của cá nhân nào đó. Ví dụ con ngoài giá thú, di chúc, hình ảnh cá nhân, tình trạng sức khỏe, bệnh tật, các loại thư tín, điện thoại, điện tín… Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về quyền bí mật đời tư như sau "1. Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. 2. Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. 3. Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật. Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền". Mặc dù Điều 38 BLDS không đưa ra khái niệm bí mật đời tư, nhưng theo lẽ thông thường có thể hiểu bí mật đời tư là những thông tin, tư liệu liên quan đến cá nhân mà cá nhân đó không muốn cho người khác biết. Báo chí có quyền đưa tin, nhưng với những thông tin về bí mật đời tư của cá nhân thì việc đưa tin phải được sự đồng ý của cá nhân đó. Ở đây cần phân biệt sự công khai thông tin tại Toà án giữa một vụ án dân sự, hôn nhân gia đình với một vụ án hình sự. Trong vụ án hình sự, những thông tin đó liên quan đến người phạm tội, họ đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và chịu hình phạt do Nhà nước qui định nên những thông tin này có thể được công khai để nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Đối với những thông tin trong vụ án ly hôn, đó là thông tin liên quan đến bản thân đương sự, không ảnh hưởng gì đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hay lợi ích của người khác nên các đương sự có quyền không công khai những thông tin này. Trường hợp này cần phải hiểu là công khai thông tin tại Toà án không đồng nghĩa với việc mất tính bảo mật của thông tin đó. Việc công khai thông tin tại Toà án khi các đương sự ly hôn là căn cứ để Toà án xem xét, quyết định cho ly hôn, cấp dưỡng, nuôi con, nhưng thông tin đó nếu được công khai ra dư luận có thể sẽ tạo sự bất lợi trong cuộc sống, sinh hoạt của người trong cuộc. Ví dụ anh A xin ly hôn với vợ là chị B, tại phiên toà, anh thừa nhận rằng quan hệ sinh lý giữa hai vợ chồng không hoà hợp anh bị mắc bệnh… nên Toà án đã đồng ý cho ly hôn. Sau đó, những lời trình bày của anh A tại phiên toà được công khai, dư luận đàm tiếu…- trường hợp này cũng cần xác định rằng mặc dù thông tin đó được công khai tại phiên toà nhưng vẫn được coi là bí mật đời tư. Về nguyên tắc luật, “Quyền bí mật đời tư” là không đồng nhất với khái niệm “Quyền riêng tư”. Quyền riêng tư cũng liên quan đến cá nhân, tuy nhiên những vấn đề thuộc về riêng tư xét ở khía cạnh nào đó lại không được coi là bí mật, mặc dù pháp luật vẫn bảo hộ những quyền này. Bất cứ cá nhân nào cũng có sự tự do trong suy nghĩ, hành động – đây là sự “riêng tư” của chính họ. Lẽ dĩ nhiên, nếu là sự tự do trong suy nghĩ thì vấn đề không có gì phức tạp, bởi không ai có thể bắt người khác phải suy nghĩ theo ý muốn của mình. Ngược lại, nếu là sự tự do trong hành động thì điều đó còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như luật pháp, quan hệ với những người xung quanh, sự tác động của phong tục tập quán, thói quen… Chúng ta có thể thấy, pháp luật nói chung, pháp luật Việt Nam nói riêng luôn tôn trọng sự riêng tư của cá nhân quyền bất khả xâm phạm chỗ ở, quyền lựa chọn công việc cho phù hợp với khả năng và điều kiện của bản thân, quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng…. Như vậy, để có thể hiểu được “Quyền bí mật đời tư” thì phải xây dựng được khái niệm “bí mật đời tư”. Và việc xây dựng khái niệm “bí mật đời tư” phải xác định được hai khái niệm cũng như sự liên kết của hai khái niệm, đó là khái niệm “bí mật” và khái niệm “đời tư”. Bí mật cá nhân bị tiết lộ, chúng ta có thể gặp rắc rối trong cuộc sống như bị kẻ lừa đảo sử dụng thông tin đó để thực hiện hành vi phi pháp… vì thế việc có một đạo luật riêng bảo vệ đời tư là cần thiết. Bí mật đời tư Privacy là một trong những giá trị lớn nhất và là một trong những quyền cơ bản quan trọng nhất của con người được Hiến pháp ghi nhận. Việc bảo vệ nó tưởng chừng như một điều đơn giản, nhưng trên thực tế, sự vi phạm có thể nói là đang trở nên tràn lan, trở thành mối lo cho xã hội. Các quốc gia đang sử dụng các hình thức khác nhau để bảo vệ, từ quan tòa đến các ủy ban chuyên biệt như Ủy ban bí mật đời tư Privacy Commissioner. Việc ngăn chặn sự xâm phạm bí mật đời tư thực sự khó khăn trong kỉ nguyên internet này, khi mà thông tin được lan truyền rất nhanh chỉ sau một cái nhấp chuột máy tính, chúng ta có thể thấy rất nhiều thông tin đời tư đáng ra phải được bảo vệ của nhiều cá nhân bị phơi bày. Những người có thông tin cá nhân bị tiết lộ hoặc người thân của họ đôi khi gặp rắc rối trong cuộc sống như kẻ lừa đảo sử dụng thông tin của họ nhằm thực hiện hành vi phi pháp… Một ví dụ có thể kể ra, đó là việc một ca sĩ bị tố cáo hiếp dâm. Liệu rằng, chỉ cần căn cứ vào bản tố cáo của một người nào đó mà cơ quan nhà nước sẽ có quyền cung cấp với báo chí thông tin về tên tuổi, địa chỉ… của ca sĩ đó hay không? Ngoài ra, chúng ta cũng đặt ra câu hỏi rằng thông tin của người chết có cần được bảo vệ? Và nếu được bảo vệ thì trong trường hợp nào? Hay thông tin của các tổ chức như doanh nghiệp, cơ quan nhà nước có được xem là bí mật đời tư hay không? Bí mật đời tư tuy được bảo vệ trong Bộ luật hình sự và Bộ luật dân sự nhưng chỉ được viện dẫn khi có “thiệt hại” của nạn nhân bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng… chứ chưa quy định một cách cụ thể, đầy đủ như ai là người có quyền thu thập thông tin cá nhân người khác, trình tự thu thập, lưu giữ, sử dụng, tiết lộ thông tin cá nhân như thế nào? Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì cũng thật khó xác định mức độ thiệt hại thực tế như thế nào trong trường hợp bí mật đời tư bị xâm phạm. Đặc biệt, đó là sự thiếu vắng hành lang pháp lý để bảo vệ bí mật đời tư không bị tiết lộ cũng như những chế tài dân sự, hành chính và hình sự áp dụng đối với ngay cả những trường hợp không có thiệt hại xảy ra nhằm bảo vệ quyền hợp pháp của công dân cũng như mang tính giáo dục chung. Do đó, đôi khi chúng ta đặc biệt là những người nổi tiếng trước công chúng phải tự mình đi tìm “phương án” để bảo vệ bí mật đời tư cho mình chứ không phải là quyền đương nhiên đã được bảo vệ chặt chẽ bởi luật. Với sự cần thiết có một đạo luật về bí mật đời tư privacy act dựa trên những nguyên tắc cốt lõi nhất định sau đây sẽ tạo ra hành lang pháp lý rõ ràng góp phần tích cực bảo vệ bí mật riêng tư của các cá nhân trong cộng đồng 1. Mục đích của việc thu thập thông tin cá nhân Thông tin cá nhân chỉ được thu thập cho một mục đích hợp pháp phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của người thu thập thông tin. Ví dụ như các quan tòa thu thập thông tin của bị cáo cho mục đích xét xử. Và việc thu thập thông tin như vậy là cần thiết cho mục đich đó. Chẳng hạn, điều tra viên không được thu thập thông tin của bị can với mục đích gì khác, mà chỉ khi cần thiết cho hoạt động điều tra. 2. Nguồn của thông tin cá nhân Thông tin được thu thập từ chính cá nhân được yêu cầu cung cấp thông tin hoặc người thu thập thông tin có thể thu thập ở các nguồn khác khi có căn cứ cho rằng thông tin đó đã có sẵn trên thông tin đại chúng, hoặc cá nhân bị thu thập thông tin đã ủy quyền cung cấp thông tin cho người khác, hay những trường hợp như để phục vụ cho quá trình điều tra, phát hiện, buộc tội người phạm tội, bảo vệ lợi ích công cộng… 3. Thông báo cho người bị thu thập biết về việc thu thập thông tin Việc thu thập thông tin phải đảm bảo cho cá nhân bị thu thập thông tin biết về việc thông tin của họ đang bị thu thập. Ngoài ra, người bị thu thập thông tin cũng được biết về mục đích của việc thu thập thông tin, tên, địa chỉ của người thu thập và người sẽ giữ thông tin đó. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp người thu thập thông tin không cần phải thông báo cho người bị thu thập thông tin để bảo vệ lợi ích công cộng, hoặc có lý do chính đáng cho rằng việc thông báo sẽ gây ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chức năng của mình theo quy định của pháp luật. 4. Phương thức thu thập thông tin Thông tin cá nhân không được thu thập theo những cách không hợp pháp, chẳng hạn như đặt máy quay phim bí mật trong nhà người khác, với những cách thức thu thập thông tin như vậy, thì thông tin đó cũng sẽ không được sử dụng ví dụ chứng cứ tại phiên tòa… . 5. Lưu giữ và bảo vệ thông tin cá nhân Người nắm giữ thông tin phải đảm bảo rằng thông tin đó được bảo vệ bằng những biện pháp thích hợp trong phạm vi quyền hạn của mình, để tránh thông bị được lưu giữ bị thất thoát, sử dụng sai mục đích, sửa đổi hay tiết lộ, loại trừ những trường hợp được luật quy định ví dụ như theo yêu cầu cung cấp thông tin của tòa án… . 6. Tiếp cận, sửa chữa thông tin của người bị thu thập thông tin Người bị thu thập thông tin được quyền yêu cầu người lưu giữ thông tin xác nhận về việc lưu giữ thông tin và họ có quyền tiếp cận cũng như yêu cầu sửa chữa những thông tin sai lệch về họ. Theo yêu cầu của người bị thu thập thông tin, người lưu giữ thông tin theo thẩm quyền của mình phải thực hiện các bước để sửa chữa những thông tin sai lệch đó. 7. Kiểm tra tính chính xác của thông tin trước khi sử dụng Người giữ thông tin không sử dụng thông tin được thu thập nếu không thực hiện các cách thức hợp lý để xác định thông tin đó có chính xác hay không, đã được cập nhật đầy đủ và phù hợp với mục đích của việc sử dụng nó chưa? 8. Không được giữ thông tin cá nhân người khác khi không cần thiết Người giữ thông tin sẽ không được lưu giữ thông tin cá nhân người khác lâu hơn thời gian như đã yêu cầu cho các mục đích mà thông tin được sử dụng. 9. Những giới hạn của việc sử dụng, tiết lộ thông tin cá nhân Người giữ thông tin chỉ được sử dụng, tiết lộ thông tin theo mục đích mà thông tin được thu thập. Chỉ được sử dụng, tiết lộ cho mục đích khác trong những trường hợp sau - Thông tin có sẵn trên thông tin đại chúng. - Khi được phép của người bị thu thập thông tin. - Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng, tiết lộ thông tin đó để phục vụ cho quá trình điều tra, truy tố người phạm tội. - Nhằm bảo vệ lợi ích công cộng. - Việc sử dụng, tiết lộ thông tin đó cho mục đích khác là cần thiết để ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra như tới sức khỏe cộng đồng, an ninh quốc gia, tính mạng hay sức khỏe của người bị thu thập thông tin hoặc người khác. - Thông tin được sử dụng, tiết lộ dưới hình thức mà không thể nhận ra đó là thông tin của người bị thu thập thông tin. Hy vọng rằng, luật Bí mật đời tư sẽ sớm ra đời, nhằm tạo ra cở sở pháp lý cần thiết để bảo vệ bí mật đời tư của cá nhân, một trong những giá trị thiêng liêng của mỗi con người, tránh tình trạng vi phạm bí mật đời tư như hiện nay. Tất nhiên, quyền bí mật đời tư không phải là quyền “tuyệt đối” mà đôi khi nó cũng bị chồng lấn bởi “quyền tiếp cận thông tin” của người khác hay “sức khỏe cộng đồng” lợi ích công cộng nhưng nhà nước cũng phải đảm bảo quyền bí mật đời tư được bảo vệ bởi vì đó là lợi ích hợp pháp của cá nhân. >> Xem thêm Quyền im lặng được áp dụng như thế nào ở Mỹ ThS Trần Đức Tuấn Chia sẻ bài viết của bạn về đời sống, xã hội tại đây Căn cứ pháp lý Bộ luật dân sự 2005 Bí mật đời tư là những thông tin, tư liệu sự kiện, hoàn cảnh về đời tư của cá nhân mà người khác không được loan truyền nếu không được người đó đồng ý hoặc pháp luật cho phép. Bí mật đời tư của cá nhân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Quyền đối với bí mật đời tư gồm cả quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở và quyền tự do thư tín của công dân. Do đó, không ai được khám xét chỗ ở, bóc, mở, kiểm soát thư, điện tín, điện thoại, bưu kiện của người khác nếu mình không phải là người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Người bị vi phạm bí mật đời tư có quyền yêu cầu người vi phạm phải a. Chấm dứt hành vi vi phạm. b. Xin lỗi, cải chính công khai. c. Bồi thường thiệt hại. Trường hợp hành vi vi phạm cấu thành tội phạm thì người vi phạm bị xét xử về tội xâm phạm chỗ ở của công dân,tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện báo của người khác. - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của LawNet . Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email nhch - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo; - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc; - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail nhch

bí mật đời tư